Mối quan hệ giữa Đá Quý và Kinh Dịch
Từ xa xưa, con người đã biết sử dụng các loại đá quý và bán
quý để mang lại vận may và thành công cho mình. Tùy vào mệnh mà con người sử dụng
các loại đá có màu sắc hợp với mệnh của mình. Đa số mọi người dùng ngọc Jadeite
(hay ngọc Cẩm thạch) hoặc Thạch anh.
Hiện nay, xã hội ngày càng phát triển thì các loại đá quý và
bán quý cũng ngày càng được sử dụng nhiều trong cuộc sống; đặc biệt là trong những
vấn đề liên quan đến sức khỏe con người và tâm linh.
Trong Kinh Dịch, 64 quẻ được phát triển lên từ 8 quẻ gốc
(Càn, Đoài, Ly, Chấn, Tốn, Cấn, Khảm và Khôn) đã được phân tích và chỉ ra loại
đá có cấu trúc tinh thể hợp với mỗi quẻ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta chưa xem xét
theo màu sắc của đá mà xem xét theo cấu trúc tinh thể của các loại đá.
Mối quan hệ giữa cấu trúc tinh thể của đá (khoáng vật) và
các quẻ trong Kinh Dịch như sau:
1. Càn (Trời): Lập phương
2. Đoài (Đầm lầy): Ba nghiêng
3. Ly (Lửa): Vô định hình
4. Chấn (Sấm): Trực thoi
5. Tốn (Gió): Vô định hình
6. Cấn (Núi): Một nghiêng
7. Khảm (Nước): Vô định hình
8. Khôn (Đất) Ba, bốn, sáu phương
Một số loại đá (khoáng vật) tương ứng với cấu trúc tinh thể
kể trên:
- Lập phương: Kim cương, Pyrop, Spinel
- Ba nghiêng: Secpentin, Tal, Pyrophyllit
- Trực thoi: Peridot
- Một nghiêng: Felspare
- Ba phương, bốn phương, sáu phương: Ruby, Saphir, Emerald,
Aquamarin, Turmaline, Zircon
- Vô định hình: Thủy tinh, thủy tinh núi lửa, Opal, Amber,
san hô…
